Du an GELEXIMCO, Du an Tay nam Linh dam, Du an Nam An Khanh, Du an Nam An Khanh sudico, biet thu Van Canh HUD

KHÚC THỪA DỤ KHỞI NGHĨA VÀ CUỘC ĐÁNH CHIẾM ĐẠI LA

 
Hôm ấy, một ngày trăng hạ tuần tháng sáu Ất sửu còn cao. Ánh trăng lung linh soi xuống khu nhà lớn của hào trưởng Khúc gần bờ bắc sông Cúc - tức sông Luộc - Một số chiến hữu nòng cốt xa gần độ hơn chục người, được mật báo về đây hội kiến.
Số là có tin mật báo từ Đại La về: Độc Cô Tổn đã bị bắt và bị đầy đi Hải Nam. Chính quyền đô hộ nhà Đường mất người tổn quản như rắn mất đầu đang hoang mang dao động. Là người hào trưởng có tầm nhìn xa, hiểu biết rộng, Khúc Thừa Dụ thấy rõ đây là cơ hội ngàn năm có một của dân tộc mà ông mong đợi từ lâu đã tới. Ông gấp rút chuẩn bị cuộc hội kiến này với một ít thủ lĩnh là để cùng xem xét tình hình, thống nhất cho những việc hệ trọng nay mai.
Các thủ lĩnh của ông ở một số vùng lân cận, ý chừng cũng thấy rõ điều hệ trọng nên các vị đều bí mật đến đầy đủ và đúng hẹn. Khúc Thừa Dụ thông báo đến mọi người tin Độc Cô Tổn bị bắt và bị đầy ra Hải Nam. Ông yêu cầu các chiến hữu thấy cho rõ cơ hội thuận lợi này và bàn bạc tính toán xem phải ứng phó như thế nào trước tình hình đó.
Các hào trưởng có mặt, bàn tán rất sôi nổi và hào hứng. Tựu chung tất cả đều thống nhất rằng: Tình thế hiếm hoi mà ta mong đợi đã hé mở. Cơ hội ngàn năm có một đối với dân tộc đã đến. Phải chớp thời cơ và có kế sách hành động mau lẹ để biến ước mơ ngàn năm của dân tộc thành hiện thực. Cuối cùng các ý kiến đều quy tụ vào hai việc phải gấp rút hành động là Khởi nghĩa và đánh chiếm Đại La
Thấy cơ hồ các ý kiến đã quy về một mối, Khúc Thừa Dụ đứng lên nói:
- Chúng ta qua trao đổi đều thống nhất là cơ hội ngàn năm của dân tộc đã tới và hai việc trọng đại phải gấp rút chuẩn bị ngay là khởi nghĩa và đánh chiếm Đại La. Vậy ta hãy bàn kỹ xem, ta phải làm cụ thể hai việc hệ trọng ấy như thế nào cho suôn sẻ nhất và giành thắng lợi?
Các ý kiến lại rộ lên
          Về việc khởi nghĩa, mọi người thống nhất là: Khởi nghĩa thì tiến hành ngay tại điền trang này. Phải phát lệnh khởi nghĩa sớm, phải có lễ tế cờ, kính cáo thiên địa. Có ý kiến nói: Phải phát lệnh khởi nghĩa, phải  may cờ định chữ cho cờ. Về cờ có ý kiến nêu cụ thể: cờ vuông, nền đỏ, chạy đuôi theo. Về chữ thêu trên cờ, có vị đề nghị thêu bốn chữ: “Thế hiên hành đạo”. Mọi người kiến nghị hào trưởng phải thảo ngay cáo lệnh và lấy cáo lệnh làm lệnh khởi nghĩa
          Về việc thứ hai là việc đánh Đại La thì có hai chủ trưởng khác nhau. Nhóm I đề xuất dốc toàn lực “quân” chủ nhà Khúc với “quân” của một số hào trưởng mạnh khác, tập trung thành nhiều múi, tiến đánh Đại La ào ạt từ mọi phía khiến bọn quan đo hộ không kịp trở tay, thu thắng lợi giòn giã, nhanh gọn nhất. Chủ trương này có khó là quân ta chưa nhiều, vũ khí phương tiện ta còn thiếu. Nếu thực hiện phương cách này thì vấn đề có không ít khó khăn, sự chuẩn bị phải kéo dài hơn. Và nếu tương lai không tốt sẽ mất yếu tố bất ngờ.
          Nhóm ý kiến thứ II lại chủ trương rằng: Với tình hình quân địch tuy còn đông nhưng như rắn mất đầu, địch đang hoang mang dao động thì quân cốt tinh, có cách đánh bị mật, bất ngờ thì có thể giành thắng lợi đỡ tốn xương máu và có hiệu quả.
          Khúc Thừa Dụ lắng nghe tất cả các ý kiến. Không bỏ sót một ý nào rồi đứng lên tóm ý. Ông nói:
- Về việc khởi nghĩa, ta nhất trí phải làm ngay. Ông xin nhận thảo cáo lệnh gửi đi các hào trưởng coi đó là lệnh khởi nghĩa. Ông hoàn toàn nhất trí là phải có cờ nghĩa nhưng cờ nghĩa thêu chữ gì là hết sức quan trọng. Ông xin phép các hào trưởng có mặt là sẽ tính ý cáo vị hôm nay để chọn ra chữ thêu thế nào cho ý nghĩa nhất, cuốn hút được lòng dân nhất.
Lễ tế cờ kính cáo thiên địa và tuyên thệ ông nên làm gọn làm một. Cốt ở nội dung sâu sắc chứ không nên rềnh ràng hình thức. Ông xin với hội nghị, ông xin lo liệu cụ thể các việc đó
Còn việc đánh chiếm Đại La, ông nghiêng về chủ trương II. Ông nói:
- Quân mạnh cốt ở tinh luyện và có tinh thần quyết thắng. Việc quân cốt ở mưu cao, kế giỏi, có cách đánh hay phù hợp độc đáo, bất ngờ... sẽ giành thắng lợi. Quân sự mà lộ thiên cơ sẽ khó thành công, có khi dần đền thất bại đau đớn. Ông kiến nghị: muốn đánh trận thì phải có người chỉ huy để điều binh khiển tướng cho trôi chảy, lo cho toàn cục.
          Mọi người ào ào lên: Một vị hào trưởng đứng lên nói:
- Còn phải chủ soái nào nữa. Từ lâu chúng tôi đã coi Khúc hào trưởng là chủ soái của chúng tôi. Xin mời hào trưởng Khúc là tổng tư lệnh
          Mọi người đồng thanh nói: Khúc chủ soái! Khúc tư lệnh !
          Khúc Thừa Dụ khoan thai đứng lên, nắm hai bàn tay, giơ lên ngang trán rồi như vái vái mấy cái trước mọi người, rồi nói trịnh trọng.
- Kính thưa các hào trưởng ! Kính thưa các chiến hữu !
Sự nghiệp cứu nước là sự nghiệp của lòng dân và lòng trời. Nó rất thiêng liêng và trọng đại. Khúc Thừa Dụ tôi vô cùng cảm kích trước lòng tin của các vị. Được sự ủy thác của các vị, quả thực tôi tự thấy không dám nhưng lại không thể từ nan. Tôi xin hứa trước các vị nhận trọng trách mà các vị giao cho và xin đem hết tâm lực, trương cờ Đại nghĩa để xung toàn thể các vị và đồng bào cùng đi tới. Khúc Thừa Dụ lặng đi vì xúc động.
          Cuộc hội kiến cơ hồ đã chuyển sang phần kết thúc. Khúc Thừa Dụ xin mọi người nâng chén và xin nói lời cuối.
          Ông nói: Đến giờ phút này thì lòng người đã quyết, chí ta đã đồng. Cuộc hội kiến hôm nay coi như là bước trù bị cho khởi nghĩa. Kế hoạch khởi nghĩa và đánh Đại La đã vỡ vạc ra như thế, xin mời các chiến hữu về suy nghĩ thêm và cứ chuẩn bị mọi thứ theo phương hướng ấy. Kế hoạch đánh Đại La như thế nào sẽ có nội dung hướng dẫn đến từng người có trọng trách vào một ngày không xa. Thưa các vị: Quân lệnh như sơn! Quân cơ phải tối mật. Ai được giao việc gì, làm gì, xin các vị cố gắng lo và làm cho tốt. Xin hẹn cuộc hội kiến lần sau
          Chưa đầy một nửa tuần trăng, hôm nay một ngày đầu tháng 7, trăng thượng tuần rực sáng phía trời Tây. Trang trại Khúc canh phòng cẩn mật, le lói ánh đèn, chờ đón những nhân vật trọng yếu của ngày hành sự tới họp. Trong phòng khách, hai ngọn hồng lạp gắn trên hai cây đèn đồng rực cháy. Sau khi nhận đúng ám hiệu, gia nhân nhà Khúc nhẹ nhàng mời khác qua cổng vào phòng.
  Vị đầu tiên bước vào, trạch tuổi tứ tuần, đầu quấn khăn nhiều lỉm, vận bộ áo lương cặp, trong là áo trắng, ngoài là áo sa đen.
Vị vào thứ hai, thân hình vạm vỡ, vai mang tay nải, quần nâu, áo nâu bó sát người để lộ đôi vai và bộ ngực nở.
Vị khách thứ ba qua cửa là một người đưng đứng tuổi, đội mũ ni, áo trung nâu sồng.
Vị khách thứ tư còn trẻ, quần nâu áo nâu sẫm, ngang lưng chít ra ngoài chiếc áo bà ba là một ruột tương xanh đã cũ. Ruột tương chít buôn về bên trái.
Hai vị vào cùng một lúc sau cùng thì đều còn trẻ. Tiếng nói hơi trọ trẹ, mang bộ quần áo dân dã miền Thanh. Các khách chọn mỗi người một ghế thích hợp để ngồi. Hai vị khách đên sau cùng một người ngồi ghế ngay sát bàn còn người kia lại tìm ngồi vào chiến ghế khuất sau cột giữa. Tất cả đều im lặng, chờ đợi.
Một cô hầu trẻ khá xinh, từ nhà trong bước ta, bưng một khay nước chè nóng, đon đả mời khách.
Xin kính chào các vị hào trưởng! Mời chư vị xơi nước nóng. Khúc hào trưởng của cháu sắp ra bây giờ.
Nói xong, cô khuất nhanh vào nhà trong.
Lát sau, từ nhà trong, hào trưởng Khúc bước ra trong bộ trang phục nâu mới đậm màu còn rõ nếp. Ngoài áo, là một ruột tượng đỏ, thắt ngang lưng, buông hai mối về một bên. Chân ông đi đôi giày vải, quấn ghệt màu chám xàm.
Thấy chủ soát xuất hiện trong bộ trang phụ khác với ngày thường, các khách đều không khỏi ngạc nhiên.
Khúc hào trưởng nhanh nhẹn bước tới trước bàn kê giữa nhà, nét mặt hứng khởi đan hai bàn tay vào nhau giơ lên cao theo cách chào của con nhà võ. Tất cả khách đều đứng dậy, cúi chào chủ soái
Khúc Thừa Dụ nhìn bao quát các khách một lượt, rồi hồ hởi nói:
- Tôi vừa đi duyệt đội gia binh ở sân sau về. Tôi phải ăn vận thế này là để các gia nhân của tôi biết cách ăn mặc như thế nào trong ngày hành sự. Ông giơ tay mời mọi người ngồi, tự tay rót nước mời khác rồi  mới nói:
- Tình thế rất gấp gáp, ta phải hành sự ngay nay mai thì mới kịp.
Ngừng một lát, ông hỏi chung mọi người:
- Thế nào? Các chiến hữu đã nhận được các cáo lệnh chưa? Mọi sự chuẩn bị của các vị theo như kế hoạch phân công cho từng vị, các vị đã tiến hành đủ chưa? Có gì khó khăn thì cần giải quyết gấp cho chu đáo. Khúc Thừa Dụ, nét mặt hân hoan, mắt sáng, ánh lên niềm vui khó tả. Ông nói:
- Kế hoạch đánh thành Đại La đã được hoạch định cụ thể, trao đến tay từng vị có trách nhiệm. Mỗi vị một kế hoạch riêng, mọi hoạch địch đến giờ phút này là không thay đổi. Mọi người cứ y kế thi hành
          Hôm nay, triệu tập các vị tới không phải là cần bàn bạc vì nó đã được tính toán kỹ và tất rồi. Điều mọi người cần biết, cần nắm thật chắc hôm nay là các mật lệnh hành sự, sao cho hành động thật nhịp nhàng ăn khớp. Khúc Thừa Dụ nói gọn và nhỏ. Mật lệnh bao hàm bốn chữ: Ngũ - Lục - Tam - Thất
Tôi xin giải thích các mật lệnh này. Rất mong các vị nắm vững để hàn động không được hiểu sai lệch một mật lệnh nào.
“Ngũ” là lược của “Thập ngũ” tức là 15 ngày rằm. Đội quân chính sẽ hội quẩn tại nơi tập kết
“Lục” là rút ngắn “ thập lục” tức ngày 16 sẽ hành động
“Tam” tức giờ Dần, giờ thứ ba của đêm, gần sáng sẽ đánh thành.
“Thất” rút lược từ “Thập thất” yêu cầu các hào trưởng phải lấy các phủ thành cho xong trong ngày 17 tháng 7 trở lại.
Ông quay hỏi mọi người:
- Các chiến hữu đã nắm rõ được mật lệch chưa?
Mọi chủ sự đồng thanh đáp:
- Thưa chủ soái! Chúng tôi đã hiểu và nắm rõ các mật lệnh!
          Khúc Thừa Dụ cười lớn:
- Thế thì cứ Ngũ - Lục - Tam - Thất mà hành động. Cứ làm đúng như thế, nhất định ta sẽ thành công.
          Quay về phía vị mặc áo nhà sư, ông nói:
- Hôm nay chiến hữu hóa trang khéo quá! Tôi phải nhìn mãi mới nhận ra. Nhìn thẳng vào vị khách này, ông nói:
- Quân vụ giao cho chiến hữu đảm nhiệm là cực kỳ quan trọng. Muốn đánh thành nhanh gọn phải cần cả ngoại kích và nội công. Nội kích lần này phải đi trước và đột phá đó. Hào trưởng hiểu ý tôi chứ?
          Vị hào trưởng này họ Phạm, người vùng Khoái Châu, đứng dậy nói
- Xin chủ tướng yên tâm. Mũi của tôi quyết làm tròn nhiệm vụ ít nhất trước “Ngũ” một ngày
          Hào trưởng Khúc quay về phía hai vị khách đến sau cùng giới thiệu:
- Đây là hai vị hào trưởng từ mãi Thanh Hóa ra. Vị này họ Lê ra nhận lệnh nội nhật tối mai phải trở về Thanh làm nhiệm vụ trọng ấy
          Còn vị cao lớn này sẽ ở lại đây, cùng tôi lo việc giữ hậu cứ này. Đó là Dương Tướng công của làng Dàng đó.
Hảo trưởng Khúc nói:
- Muốn đánh được giặc tốt, trước hết phải biết giữ nhà trước đã.
          Thưa các vị, buổi hội kiến hôm nay so với cuộc hội kiến trước có vắng mặt hai người. Một người là hào trưởng họ Phạm Nam Sách và “Hành quân tư mã” con trai tôi. Hai người đã phải lên đường lo việc “hội quân” từ hôm trước rồi. Đúng tối ngày kia, tôi và các cộng sự của tôi cũng sẽ có mặt đúng tại nơi đó
 
          Vì chưa thấy chủ soái nói gì đến lễ tế cờ, tuyên thệ khởi nghĩa, kính cáo thiên địa như buổi hội kiến lần trước, một hào trưởng đứng lên nói:
- Thưa chủ soái! Thế còn việc lễ cờ, tuyên cáo, tuyên hệ thì sao? Sao không thấy chủ soái cho biết?
          Khúc Thừa Dị cười cởi mở.
- Vâng. Đúng là có việc tế cờ, kính cáo thiên địa phải làm ngay. Sau hội kiến hôm trước, lĩnh hội ý kiến các vị, tôi đã cho chuẩn bị đầy đủ. Vậy xin mời các chiến hữu vào sân trong để kịp thời hành lễ.
          Khúc Thừa Dụ quay về phía trong, nói lớn:
- Các tòng sự đâu? Mau tiến hành Đại lễ!
          Mọi người theo Khúc hào trưởng vào sân trong. Sân trong, trước đại sảnh đường, một kỳ đài trang trọng không biết hào trưởng cho dựng từ bao giờ. Trên một sàn gỗ cao khá rộng, một lễ đài đơn giản nhưng trang trọng thu hút sự chú ý của mọi người.
          Phía cuối lễ đài là một phông đỏ rộng, che khuất hơn cả một gian chính, chính đại sảnh đường. Trên nền đỏ tươi, mấy chữu Hán “Cáo thiên địa đồng tuyên thệ lễ” cắt chữ vàng, chữ lớn và đẹp dán giữa phông trang trọng. Hai bên hai phông vải đỏ buông chùng quây lấy sàn gỗ tạo cho lễ đài như một sân khấu nhỏ. Phía trước lễ đài, một tấm vóc đỏ xếp chun căng trên rung rinh bốn mép theo gió. Hai tấm vóc khác treo cánh gà thu nhỏ sân đại lễ cho thêm phần kín đáo và ấm cúng. Một là cờ to vừa phải, hình vuông nền đỏ, đuôi nheo đỏ viền trắng. Giữa nền đỏ của vóc thuê hai chữ vàng “ứng nghĩa”. Cờ buộc trên kỳ đài lồng lộng gió.
          Trên lễ đài, phía sát phông trong là một hướng án cổ cao. Trên hương án là một lư hương đặt chính giữa, hương trầm tỏa hương thơm ngát. Hai cây đèn lồng đặt cân xứng hai góc trước hương án, hai cây hồng lạp đang rực cháy. Một bát hương cổ  hương trầm đang cháy. Trước hương án một bàn phủ vải vóc đỏ, giữa là một giá kiếm, một thanh kiếm mạ vàng đặt ngang trên giá, bên cạnh là một bó sũa son son, hai sầu hai vòng giấy vàng cuộn chặt để bên. Một mâm xôi nhỏ trên đặt một con gà luộc khéo, bay cánh tiên, đầu nghếch cao, mỏ ngậm bông hoa mẫu đơn đỏ rực.
          Nhìn vào lễ đài, mọi người nói nhỏ trầm trồ. Hào trưởng Khúc quả là người cận trọng và lịch lãm.
          Mấy vị ngắm kỹ lá cờ, nhớ lại những chữ mà họ đề nghị trước, đều thấy hai chữ “ứng nghĩa” mà Hào trưởng Khúc cho thêu vừa sâu sắc, khiêm nhường vừa có sức cảm hóa dân chúng. Thật là thích hợp !
          Khúc Thừa Dụ trinh trạng đứng vào chiếu trên. Các chiến hữu dàn hai hàng ngang đứng chiếu dưới. Hai hàng thị vệ, mỗi bên năm người, nai nịt gọn gàng, cầm gươm tiến ra đứng hai bên. Ánh nến chiếu lên những lưỡi gươm trần sáng lóa. Không ai bảo ai, tất thẩy đều cảm thấy đại lễ thiêng liêng trang trọng.
          Khúc chủ soái lặng lẽ thắp ba nén hương trầm, quỳ xuống, hai tay cầm hương chụm lại, khuỳnh tay, giơ hương khỏi trán, lầm rầm kính cáo:
Thiên địa, thần kinh, tiên tổ. Lời khấn của ông chậm rãi và vang vọng.
          “Ngàn năm nộ lệ/ Độ hộ làm càn. Non nước điêu linh/ Thần dân phẫn nộ. Nay thời cơ ngàn năm đã tới/ Vâng theo lẽ trời, tuấn mệnh muôn dân/ Chúng con hào trưởng/ đại biểu muôn phương/ tụ tập mưu đồ Đại nghĩa/ cứu vớt non sông/ Kính mong Thiện địa được nhục nhân nô vong quốc/ Dựng lại nghiệp trước Cha ông.
          Ông vái ba lạy, đứng dậy dám hương vào bát hương đồng đang quyện khói. Đoạn ông hai tay nhắc nhẹ thanh bảo kiến khỏi giá đỡ, nâng kiếm ngang màu, tuyên thệ:
- Được sự ủy thác của danh thần, nghĩa sĩ, con xin thề trước Thiên địa, Thần linh, Tiên Tổ với thần dân trăm họ, sống thác vì nghĩa cả, theo đòi sự nghiệp đến cùng.
          Ông đặt kiếm vào giá, cầm lấy bó đũa, đứng xoay người lại, giơ cao bó đũa nói:
- Chúng con nguyện bó bện cùng nhau như bó đũa buộc chặt này. Nếu chúng con thối chí, ngã lòng thì xin chịu Trời tri, đất diệt như chiếc đũa này. Ông rút nhanh một chiếc đũa, bẻ gập lại để xuống cạnh bàn.
          Các vị hào kiệt, lần lượt lên tuyên thệ. Mỗi người cầm một cây đũa giơ lên rồi nói
- Nếu chúng con thối chí, ngã lòng thì xin Trời Đất, Thần linh  tru diệt như chiếc đũa này. Nói xong, mỗi người đều bẻ gập chiếc đũa vừa giơ lên, đặt xuống bàn.
          Buổi lễ kính cáo Thiên Địa và tuyên thệ diễn ra nhanh gọn không đầy hai khắc.
          Ông trăng thượng tuần hạ thấp từ lúc nào. Mọi người lặng lẽ nhanh chóng tản ra các nơi theo sự chỉ đường, hướng dẫn của các gia nhân, khuất vào trong bóng đêm của trời khuya yên tĩnh.
          Hai ngày sau lễ tuyên thệ, cuộc hành quân đánh chiếm Đại La diễn ra đúng như kế hoạch đã định.
          Tại Lỗ xá - Tên nôm là làng Lọ (Nay là thôn Lỗ Xá, xã Nhân Hòa huyện Mỹ Văn - Hưng Yên) cánh quân chính đi đánh Đại La đã tụ họp đông đủ. Đêm ấy, trời đầu thu trong xanh. Trăng rằm vằng vặc. Xung quanh xã và mấy thôn bên, nghĩa quân canh phòng cẩn mật “nội bất xuất và ngoại bất nhập”. Các thuyền của nghĩa quân đậu kề sát nhau chiếm quá nửa Dầm Lọ mênh mông, giáo mác tề chỉnh. Trên một bục lớn vừa lập, một chiếc bàn con đơn sơ phủ vải đỏ. Hai đội túc trực nhanh chóng xuất hiện, dàn hai hàng tả, hữu. Gươm giáo và đuốc hồng của đoàn quân rực sáng. Bỗng một hiệu lệnh ban ra. Tiếng loa đồng kêu gọi cả đoàn quân nghe lệnh. Không một tiếng động nào sau tiếng loa. Khúc Thừa Dụ trong trang phục võ tướng đĩnh đạc bước ra giữa bục, giơ tay chào đoàn quân rồi nói:
- Hỡi các tướng lĩnh và nghĩa binh! Tay ông chỉ vào lá cờ cắm ngay trước bục:
- Đây là lá cờ “ứng nghĩa”. Lá cờ này đã xuất hiện trong lễ xuất quân ở hậu cứ. Hai chữ “ứng nghĩa” đã thâu tóm tinh thần cuộc khởi nghĩa, cũng như cuộc hành quân chiến đấu lần này. Lá cờ này nhất đinh phải được tung bay giữa Đại La giải phóng vào sáng ngày 16. Quay lại người lính túc vệ cầm hai lá cờ nhỏ đuôi nheo hình cháo, ông rút lấy cờ gió lên. Cờ chéo nền đỏ, đuôi nheo viền vàng, giữa có một chữ thêu đậm nét chữ: “lệnh”. Khúc Thừa Dụ nói dõng dạc trước toàn quân.
- Đây là hai lá cờ lệnh. Cánh quân do tướng Phạm - Nam sách lĩnh lá cờ này. Còn lá cờ này, trao cho “Hành quân tư mã” Khúc thống lĩnh. Tất cả các nghĩa sĩ của hai cánh hành quân phải tuyệt đối theo các tướng và các cờ lệnh này. Quân lệnh như sơn, không ai được trái lệnh. Kẻ nào làm sai quân lệnh, hai trưởng sẽ thực thi theo quân pháp. Tất cả toàn quân đồng loạt hô: Vì đại nghĩa chúng tôi tuân lệnh! Tuân lệnh!      
Khúc Thừa Dụ nói đánh gọn:
- Tất cả hành tiến theo chỉ huy! Theo kế hoạch!
Đuốc và nến đồng loạt tất. Hai cánh quân theo hai tướng chỉ huy, theo hai lá cờ lệnh phất, lóc lách qua những lạch nước um tùm lướt ra các nhánh rộng hơn của sông Cái, ngược dòng nhanh chóng chiếm lĩnh ven sông tả ngan. Trăng rằm tháng bảy hạ thấp. Các mái chèo cắt nước sắc ngọt ngày một gấp gáp xa gần. Có tốp đã nhanh nhẹn lẫn vào các lùn cây rậm rạp ở bơn nổi giữa dòng sông. Bộ phận tiền tiêu của cánh quân Tư Mã đã vượt sóng qua sông, lẩn kín vào lau lách bên bờ hữu ngạn sông cái. Tất cả hai cánh đều giữ được an toàn bí mật. Tin từ Lỗ Xá, báo tới tốp nghĩa quân tinh luyện do hào hương họ Phạm người Khoái Châu đã bí mật vượt đò Mễ Sở, cất nào tre đê Đại La, nhập chót lọt vào các làng xóm nội thành, thống nhất theo kế hoạch nội ứng vào Đại La trong đêm 14. Cánh quân này rất ít người nhưng đã nhanh chóng bất mối với nội thành. Chiếm phía Nam Đại La, sẵn sàng mở  cửa Nam thành và đang chắp với nhân mối cửa của Tây thành, thực hiện nội ứng. Cả ngày 15, các cánh quân giấu quân an toàn lặng lẽ trong lau sậy và các vạt cỏ ven trùm ở cả hai bờ sông Cái và cả ở bơn nổi giữa sông. Hai tướng chỉ huy hai cánh quân chính đánh vào Đại La đã nối được liên hệ. Thành Đại La vẫn chưa có biểu hiện khác lạ so với những đêm ngày trước đó. Trêm vọng gác tiền tiêu của Đô hộ phủ, bọn lính gác đi đi lại lại, uể oải như người bị ốm. Đại La của giặc trong đêm rằm, chìm trong hoang mang, khắc khoải. Sang đúng canh một của ngày 16 thì Khắc Thừa Dị cùng mấy tùy tùng đã sang được sông. Tin từ phía Tây báo tới. Canh quân do thủ lĩnh Ngô Mân đã bí mật xuôi dòng sông Cái đang bí mật ẩn giấu cạnh của Tây bắc Đại La. Mấy con chiến mã đã  kịp thời chở sang sông bằng bè tre lồ ở ghép. Nghĩa binh người nào cũng chết khăn đầu rừu đỏ, quân chít ống, nuột tượng đỏ thắt ngang lưng, trang nghiêm chờ lệnh. Đêm rằm 15 rạng 16 của Đại La trôi quá chậm. Bỗng trống cầm canh trên chòi canh chính của phủ đô hộ chuyển nhịp bốn. Giờ Dần đã tới!
Khúc Thừa Dụ nhảy phóc lên mình ngựa lao lên hướng phía cổng chính Đại La. Ba tiếng pháo lệnh nổ vang báo lệnh tiến công thành. Các mũi tiến công nơi xa, nơi gần đều ào lên, bám sát chân thành. Ngồi trên mình ngựa, Khúc Thừa Dụ truyền lệnh:
- Hỡi ba quân! giờ hạ thành đã tới. Tất cả nhanh chóng tiến công thành không được chậm trễ! Các tước sĩ nghe đây: Vào thành, cấm không được đụng đên lưng cơm, bát gạo nào của dân! Kẻ địch nào ngoan cố chống cự, phải tiêu diệt ngay! Cấm không được chém giết bừa bãi. Những kẻ quy hàng thì cấm không được giết. Hãy thu vũ khí và gom chúng lại đợi ta xử lý.
Tất cả quân sĩ hô vang: Vì Đại nghĩa. Tuân lệnh! Tuân lệnh!
Cả tước sĩ ào lên trèo tường phá lũy. Hai cửa phía Nam và tây nam thành, nhờ nội ứng được mở toan. Quân sĩ tiến vào nội thành như thách cuốn. Họ nhanh chóng đánh, chiếm các đồn trú. Tiến canh của địch. Riêng cửa thành chính Bắc và chính Đông, không có nội ứng, cuộc chiến đấu diễn ra có phần ác liệt. Hàng loạt thang giây có móc sắt vắt qua thành lũy. Thanh đao, mã tấu chém tre dọn lối mở đường. Các chiến sĩ giáo mác, câu liêm tua tủa leo lên chiếm lĩnh mặt thành, vừa reo hò vừa xốc tới chiến đấu với địch trên mặt thành. Giặc bị đánh bất ngờ la hét om sòm, chống cự yếu ớt rồi lật lượt giơ tay xin hàng, xin cứu mạng. Cuộc chiến đấu diễn ra nhanh gọn như chỉ trong chớp mắt. Khi trời vừa ló rạng Đông, hắt những tia nắng ban mai đầu tiên lên bầu trời xanh thẳm thì cũng là lúc các nghĩa quân đã chiếm xong các công sở quan trọng trong nội thành của địch. Lá cờ cá hai chữ “ứng nghĩa” nhanh chóng được kéo lên, tung bay trên nóc phủ đường Đô hộ. Một bản cáo yết viết sẵn trên vải đỏ chữ lớn thêu mấy chữ vàng: Thừa lệnh Thiên triều, Tân Tiết Độ sứ nhậm chức “buông từ cao xuống trước cửa Đại sảnh đường”. Khúc Thừa Dụ xuống ngựa, ung dung bước vào đại sảnh. Ông đảo mắt lướt qua một lượt, cả sảnh trường mà chỉ mấy trước còn là Phủ đô hộ của quan quân Đô hộ. Lá cờ của phủ Đô hộ cũng nhanh chóng được hạ xuống gấp lại, ném vào hòm lưu trữ. Ông mỉm cười, bước ra khỏi đại sảnh. Tất cả các hàng binh lần lượt đã được thu gom về đây. Khúc Thủ lĩnh nhìn bao quát lũ hàng binh bọn chúng đã bớt run, nét mặt còn hằn hoảng hồn. Ông dõng dạc nói với lũ hàng binh:
- Độc Cô Tôn sau khi bị bắt giải đi Hải Nam đã bị Chu Toàn Trung cho tự sát. Ta là Tân Tiết Độ sứ quản trị toàn Giao Châu, nhâm chức từ hôm nay. Các ngươi bất luận là người Hán hay người Việt đã quy hàng, nay ta cho toàn tính mệnh. Người Hán mà muốn về nước với vợ con, sau khi thẩm xét, ta sẽ tạo điều kiện cho về an toàn và thuận lợi... Những hàng binh người Việt, bất luận là quan hay lính nếu muốn theo Tân Tiết Độ sử ta sẽ thu nạp sử dụng. Còn ai, thích về với vợ con, từ ngày mai ta sẽ cho về bản quán làm ăn, miễn là không được làm hại đến “Quốc kế dân sinh” của ta.
Khúc Thừa Dụ vừa dứt lời, bọn hàng binh nhao nhao lên:
- Cảm ơn Tân Tiết Độ sứ: Đa tạ lượng khoan hồng của Tân Tiết Độ sứ!
Khúc Thừa Dụ nói với Khục Hạo vừa tới:
- Tướng quân hãy nhanh chóng thực thi lệnh đối với hàng binh như đã dự bàn từ trước.
Vừa nói xong, ông lại lên ngựa đi thị sát các nơi khác của La thành.
Đại La hôm nay, mọi người đều như dậy sớm hơn mọi ngày. Họ túm năm, tụm ba bàn tán xôn xao về chuyện Đại La chỉ trong một đêm mà thật khác lạ: Các cánh quân khởi nghĩa, đoàn nọ gặp đoàn kia kể lại vụ việc của mình, nói cười rôm rả.
Mặt trời đã ửng đỏ chân trời đông rồi từ từ lên cao, tỏa những ánh nắng vàng rực rỡ xuống Đại La vừa giải phóng.
Nghĩa quân từ tướng lính đến nghĩa sĩ, sực nghĩ đến những tấm bánh khúc mang theo làm quân lương chưa kịp ăn, không ai bảo ai, họ cởi ruột tượng buộc lại ngang thân ra, trút bánh ra, ăn mừng Đại thắng. Chiếc bánh Khúc quê hương có phần đã khô cứng lại nhưng ai cũng cảm thấy chúng ngon hơn thường ngày. Một quân sĩ, tay bóc bánh miệng bô bô nước hàng quân:
- Cảm ơn ông bà chủ soái biết lo xa! Món ăn sáng mừng công này tiện lợi quá! Nhiều người đồng thanh: Bánh mừng công! Bánh chiến thắng!
 
Mặt trời đã lên cao mấy con sào. Khắp Đại La tràn ngập niềm vui. Không biết từ lúc nào, bốn phía La thành la liệt toàn cờ. Các lá cờ to... có, nhỏ có, vuông có, dài có, chéo cỏ... đủ các loại cờ, buộc trên những cái cán tra vừa sắm, cắm cao thấp không đều nhau rải khắp mặt lũy, trên các cổng thành.
Trên mấy ngọn cây cao của nội thành và cả trên nóc cổng các đình chùa, cờ Thần, cờ Phật, ai đó đã trương lên tung bay trong gió sớm như reo hò như múa.
Khúc Thừa Dụ, chùng cương ngựa, qua các lối lớn. Ông nhìn kỹ các loại cờ các kiểu cắm trên mặt thành, không nén được xúc động và bừng hiểu ra rằng: Các lá cờ đủ các kích cỡ làm vội, trương lên kia, hẳn là của các nghĩa sĩ nhà mình. Trước chiến thắng để mừng công, các nghĩa sĩ không có cách nào khác là lấy khăn đầu rìu xuống, xé ngang, xé dọc, cắt chéo làm cờ, cắm ở các nơi đó. Còn các lá cờ Thần, cờ Phật kéo lên kia, ông đoán hẳn là lá cờ của dân Đại La tự động treo lên để mừng nghĩa quân, mừng chiến thắng. Ông sung sướng tự nói với mình:
- Chính quần chúng mới là người làm nên chiến thắng. Ta đâu đã lo được hết mọi cái cho cuộc đánh Đại La này. Những cái mà quân sĩ làm và dân Đại La làm để mừng chiến thắng, ta làm sao mà lo cho trọn được. Lòng dân, ước nguyện của dân, trí tuệ của dân, sáng kiến của dân thật là vô tận! Ta phải cố thu góp việc dân và mọi cống hiến của họ cho sự nghiệp của nước và xây dựng non sông này.
Tin Đại La được giải phóng lan nhanh đến các hang cùng, ngõ hẻm trong cả châu. Dưới sự điều hành của các hào trưởng các địa phương, quần chúng đã đồng loạt nổi dậy chiếm các châu, quận huyện Đô hộ. Họ trừng trị những bọn quan lại Đường và tay sai hung ác, gọi hàng các quan lại, binh lính địch ra trình diện và làm chủ các vùng nông thôn và thành thị rộng lớn.
Mười ngày sau ngày giải phóng, sau hơn 100 năm bị nô lệ, dân ta đã được “phá cũi xổ lồng”, bước vào xây dựng cuộc sống độc lập tự chủ rất còn non trẻ và khó khăn nhưng đầy triển vọng. Khúc Thừa Dụ  trước Đại lễ ở Đại La khẳng định:
  • Từ nay, dân ta làm chủ đời ta. Nhục vọng quốc ngàn năm đã được tẩy rửa. Chúng ta phải quyết giữ cho được thành quả này. Khó khăn, thử thách còn đang ở trước mặt chúng ta. Ta nguyện cùng sông núi, tổ tông phải găn sức vươn lên làm tròn sự nghiệp quang vinh và thiêng liêng đó.
Sau một ngày làm việc căng thăng, Khúc Thừa Dụ quay về đại sảnh. Nằm xuống giường, ông muốn chợp mặt đi một chút cho lại sức song lại không sao chớp mắt được. Trước mắt ông, bao việc của ngày mai, ngày kia... đang dồn tới, đang đợi chờ ông phải xử trí sao cho chuẩn xác. Đột nhiên, câu chuyện Khúc – ốc ngày xưa – do ông nội kể lại sống dậy trong trí nhớ của ông. Ông tự bảo mình:
- Phải rồi ! Nội nhật ngày mai phải cử người về Cúc Trang, điều cái Ngọc và Dương tướng công lên Đại La lo việc.
Ngoài vọng gác xa, trống báo canh hai đã điểm. Ông đi vào giấc ngủ với bao dự định và niềm tin mới. 
Bà con Hồng Châu kể và Khúc Thừa Đại ghi